Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2013

Đến Huế tham quan làng nghề làm nón ngày hôm nay bài thơ Tây Hồ.

Khâu (chằm) nón là công đoạn quyết định đến sự hình thành và vẻ đẹp của cả chiếc nón

Đến Huế tham quan làng nghề làm nón bài thơ Tây Hồ

Từ đó, những người làm nón ở Tây Hồ bắt đầu làm nón bài thơ hàng loạt, đưa ra bán ở thị trường. Buổi tan trường, các con đường bên sông Hương như dịu lại trong cái nắng hè oi ả bởi những dáng mảnh dẻ với áo dài trắng, nón trắng và tóc thề. Chỉ với vật liệu đơn giản của lá dừa, lá gồi, những chiếc nón bài thơ vẫn trở thành vật “trang sức” của biết bao thiếu nữ.

Từ Tây Hồ, những chiếc nón bài thơ tỏa đi khắp nẻo đường và trở thành gần gụi, thân quen trong cuộc sống thông thường của mỗi phụ nữ Huế. Con gái làng Tây Hồ chừng mười tuổi thì đã tự học chằm nón và có người suốt đời chỉ theo nghề chằm nón. Những khuân mặt trẻ trung ẩn hiện sau vành nón sáng lấp lóa đã trở nên một ấn tượng rất Huế, rất Việt Nam. “Sao anh không về thăm quê em Ngắm em chằm nón buổi trước hết Bàn tay xây lá, tay xuyên nón Mười sáu vành, mười sáu trăng lên” Người dân Tây Hồ luôn kiêu hãnh vì quê mình là nơi xuất xứ của nón bài thơ xứ Huế.

Rồi theo lẽ thường tình, những cô gái làng Tây Hồ đi lấy chồng về các miền quê khác, họ mang theo nghề nón lá truyền thống của mình và nghề làm nón bài thơ được lan truyền rộng rãi khắp các miền quê. Người đàn bà thì nức vành và ủi lá. Đường chằm phải mềm mại, thanh nhẹ, dịu dàng. Hai câu thơ đầu tiên được ông Bặc ép vào chiếc nón là: “Ai ra xứ Huế mơ mộng / Mua về chiếc nón bài thơ làm quà”.

Ban sơ, nón bài thơ được người dân Tây Hồ làm để tặng người thân, không ngờ lại được mọi bồ thích. /. Để có được lá đẹp, người thợ thường chọn lá nón vẫn giữ được màu xanh nhẹ, ủi lá nhiều lần cho phẳng và láng. Sang trọng một thời kì khá dài, chiếc nón bài thơ là sản phẩm độc quyền của làng nón Tây Hồ. Với cây mác sắc, họ chuốt từng sợi tre thành 16 nan vành một cách công phu; sau đó uốn thành vòng thật tròn trịa và bóng bẩy.

Khi nón chằm hoàn tất, người ta đính thêm vào chóp nón một cái “xoài” được làm bằng chỉ bóng láng để làm duyên, sau đó mới phủ dầu nhiều lần, phơi đủ nắng để nón vừa đẹp vừa bền.

Với nhiều người, lựa nón, lựa quai cũng là một thú vui nên không ít người đã kỳ công đến tận nơi làm nón để đặt cho riêng mình với dòng thơ yêu thích. Những câu thơ được ép vào nón cũng đa dạng và phong phú hơn, thường là những câu thơ về Huế. Chiếc nón bài thơ ra đời ở Tây Hồ như một sự ngẫu nhiên: Đó là vào khoảng năm 1959 - 1960, ông Bùi Quang Bặc - một nghệ nhân chằm nón lá, cũng là một ý trung nhân thi phú trong làng đã có sáng kiến làm nên nón bài thơ bằng cách, ép những câu thơ vào giữa hai lớp lá, tôn vinh thêm vẻ đẹp của chiếc nón (lúc đó, nón lá ở Huế đốn được bán vào thị trường của các tỉnh phía nam).

Khi xây và lợp lá, người thợ phải khéo léo# sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp để nón có thể thanh và mỏng.

Còn đàn ông, ngoài việc đồng áng, họ cũng phụ giúp phụ nữ làm mướn việc ủi lá hay chẻ tre để làm vành nón. Ngoài ra để làm đẹp thêm cho chiếc nón người ta còn ép vào đấy những bức tranh về sông Hương, núi Ngự cạnh bài thơ. Điều làm nên nét đặc biệt nhất của nón lá Tây Hồ so với sản phẩm cùng loại của nhiều làng nón khác ở xứ Huế chính là dáng thon thả, độ mỏng, màu nón trang nhã và đặc biệt nhất là những bài thơ chất chứa tâm hồn xứ Huế được cài trong chiếc nón.

Người thợ sẽ khâu từ trên xuống đến vành 15, cứ 1 cm 3 mũi cước trong suốt. Vành rút cục khâu cước trắng, 2 mũi kim cách nhau 2 cm.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét