Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

Hồ Ngọc Đại: Tôi nhận được sự hậu thuẫn lớn từ Bộ GD&ĐT. mọi người đọc GS.

Giáo sư có thể san sớt về quá trình đưa bộ sách vào thực tiễn dạy học ở Việt Nam

GS. Hồ Ngọc Đại: Tôi nhận được sự hậu thuẫn lớn từ Bộ GD&ĐT

Bộ sách này đã được xử lý về mặt khoa học, triết học, tâm lý học và nghiệp vụ sư phạm, thành thử tôi coi đây là một bộ sách xứng đáng nhất với cá nhân chủ nghĩa tôi.

Khi nhận được sự ủng hộ của Bộ GD&ĐT thì bộ sách Tiếng Việt đã được đưa vào dạy trong các nhà trường một cách thuận tiện. Giáo sư Hồ Ngọc Đại May mắn cho tôi khi về nước tôi bắt gặp một bộ sách tổng kết 300 năm nghiên cứu về ngữ âm tiếng Việt.

Khi có kết quả khả quan tôi đã thưa với Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển và nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục tiểu học Lê Tiến Thành để đề nghị cho nhân rộng bộ sách này và đã được ưng ý. Đây là việc làm hữu dụng nhất trong thế cuộc tôi, tôi tự hào vì đã đưa đến cho đời trẻ Việt Nam một thành quả khoa học tiền tiến. Song Bộ trưởng cũng rất cẩn trọng khi tìm hiểu để đi đến quyết định cho nhân rộng việc triển khai bộ sách tại các thành phố.

Quyển 2 sờ soạng phần vần, quyển 3 tập dượt giúp cho HS tự đọc, ngoài ra còn có quyển tập viết.

Do vậy khi đưa vào thực nghiệm tôi đã ứng dụng cách đọc to, đọc nhỏ, mấp máy môi và ngậm miệng tự đọc trong đầu. Khi đến trường HS phải tự làm việc, cha chỉ làm mẫu, điều chỉnh và đánh giá kết quả của HS. Nên trong quá trình dạy để rà việc học, GV sẽ đề nghị HS đọc to từ rút cuộc, điều này buộc quờ quạng HS phải làm việc.

Đặc biệt là Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Vũ Luận cũng khôn xiết ủng hộ. Khi đưa vào thực tế ông có nhận được sự tiếp sức nào không?  Những năm trước hết, bộ sách này phải viết tay dần dần được in thành quyển.

Năm 1986, bộ sách này đã được ứng dụng đại trà và đã có lúc có tới 43 thành thị học theo bộ sách này. Nên khi quan sát lớp học sẽ thấy có lúc HS đọc theo các cấp độ khác nhau: Đọc to, đọc khẽ, mấp máy môi, đọc trong đầu. Nghiệp vụ này thừa hưởng thành quả nghiên cứu về tâm lý học của thế giới và những năm chung cuộc tôi là tác giả tham gia vào quá trình ấy.

Với nghiệp vụ sư phạm này, HS tự học khác với việc trước đây chủ yếu là thầy giảng.

Giữa vấn đề đọc to và đọc trong óc phải ưng chuẩn một quá trình đọc nhỏ. Để bộ sách được khai triển mở mang tại các địa phương, tôi đã nhận được sự viện trợ rất nhiều từ Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển và nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục tiểu học Lê Tiến Thành.

Cho đến nay sau 35 năm bộ sách đã được bổ sung hoàn chỉnh về cả học thuật và thực tại và nghiệp vụ sư phạm và chúng tôi thực thụ yên tâm khi đưa vào giảng dạy cho HS. Là một nhà khoa học tâm lý, ông đã áp dụng tâm lý học như thế nào vào quá trình giảng dạy và biên soạn môn Tiếng Việt?  Cuối thế kỷ 19 tâm lý học đã phát hiện ra vấn đề đọc to và đọc trong óc là một.

Nếu học theo cách này, bố mẹ không cần phải chuẩn bị trước, không cần dạy thêm cho con, HS chỉ cần học ở trường là đủ, trẻ sẽ có nhiều thời kì vui chơi. Tại Trường Tiểu học rạng đông (tỉnh Hải Dương) khi học theo bộ sách này, trong số 257 HS lớp 1 thì chỉ có 1 em trung bình, 20 HS khá, còn lại trên 200 HS đạt loại giỏi.

Mục đích của quá trình sư phạm hiện đại là cần kiểm soát được quá trình học của HS. Như vậy bộ sách này đã tạo ra một giải pháp tốt cho việc dạy học Tiếng Việt ở lớp 1. Cách dạy này tạo nhịp cho việc đổi mới toàn diện giáo dục cả về nội dung và phương pháp. Bên cạnh đó để kiểm soát HS nên trong tiết học thường kèm theo cả hành động.

Trong thời kì hoàn thiện, tôi đã lên Lào Cai và thuyết phục được các đồng chí lãnh đạo của tỉnh cũng như Sở GD&ĐT đồng ý cho dạy thí điểm đối với HS dân tộc. Mong muốn của tôi là đưa đến cho thế hệ trẻ một thành tựu khoa học đương đại có sự phối hợp về mặt ngữ âm học Tiếng Việt hoàn thiện và quan trọng nhất là nghiệp vụ sư phạm hoàn toàn mới.

Sau một niên học chương trình này trẻ đều đọc thông viết thạo, nắm vững luật chính tả và không thể tái mù. Và năm 1977, bộ sách ấy được chọn làm giáo trình cho sinh viên năm thứ 3 khoa Ngôn ngữ Trường ĐH Tổng hợp. Trong quá trình đưa vào dạy ở các tỉnh tiện lợi thì kết quả cũng hết sức khả quan.

Việc áp dụng dạy Tiếng Việt Công nghệ giáo dục đã giúp cho HS lớp 1 hấp thu tri thức một cách tiện lợi và có nhiều thời gian để trẻ mỏ vui chơi. Song sau một thời kì khi quyết định cả nước học theo một bộ sách thì bộ sách này không được sử dụng.

Nhưng sau khi tôi sang Nga làm luận án tấn sĩ về toán với gợi ý của một người thầy tôi đã chuyển sang nghiên cứu môn Tiếng Việt nhưng đầu tiên mới chỉ ở mặt lý thuyết.

Tôi cũng hấp thụ thành quả nghiên cứu về tâm lý học Xô Viết những năm 60 của thế kỷ trước và những năm 80 tôi là người trong cuộc nghiên cứu về vấn đề đó.

Thưa giáo sư, bộ sách Tiếng Việt 1 CGD là sự nhiệt huyết của cuộc đời ông, xin ông giới thiệu ngắn gọn về bộ SGK này?  Bộ SGK này có 3 quyển, quyển 1 bao gồm quơ bảng chữ cái tiếng Việt.

Lúc sinh tiền, Tổng bí thơ Lê Duẩn, vốn là người cha gần gụi trong gia đình, song song cũng là một người thầy, có biết và có ủng hộ cách làm của giáo sư không?  Nói chung ông đã ủng hộ và nói rằng việc này đúng song cũng sẽ rất khó khăn nhưng cũng sẽ thành công. Sau đó có 6 tỉnh theo và cho đến năm nay đã có 37 tỉnh ứng dụng.

Chính Bộ trưởng đã đích thân vào tận các trường có HS dân tộc để rà soát thực tế việc dạy học Tiếng Việt Công nghệ Giáo dục.

Nghiệp vụ sư phạm ở đây là phải rà được việc học của các em. Bộ sách này ra đời trong một quá trình tương đối dài. Theo ông việc áp dụng kiến thức tâm lý học trong quá trình đổi mới trong chương trình giáo dục thời gian tới cần chú trọng điều gì?  Vấn đề đổi mới giáo dục cơ bản, toàn diện là phải đổi mới tận gốc nội dung cấu tạo chương trình, phương pháp giảng dạy, quan hệ thầy trò và đặc biệt cần đổi mới tận gốc vai trò của HS trong nhà trường.

Còn một trường ở tỉnh Nam Định thì 100% HS đạt loại giỏi. Khi HS tự làm sẽ tạo ra sản phẩm riêng và Vì vậy mang đến sự hứng cho mình. Trước đó tôi vốn là GV dạy Toán, nghiên cứu về Toán. Châu Anh (ghi). Sau khi tự mình đi soát tại 5 trường sinh dân tộc, Bộ trưởng đã thấy hiệu quả về cách dạy học này nên đã mời trạng sư tham mưu về luật và quyết định cho các địa phương khai triển đại trà trên tinh thần tự nguyện.

Lãnh đạo Bộ GD&ĐT đã nhìn thấy ích lợi của dân tộc nên đã ủng hộ rất nhiệt thành trong quá trình khai triển nhân rộng tại các địa phương. Vì vậy năm 1978 tôi đưa vào dạy tuy nhiên cũng có nhiều bỡ ngỡ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét