Ngày nay là những cảnh báo oán rất tầm thường như cảnh bà con rượt đuổi tên xã trưởng có nợ máu với dân, cảnh đám trẻ con truy bức một đứa trẻ khác vì bố nó ngày trước là ác ôn. Cùng thiên hướng tái tạo sự khốc liệt của chiến tranh, bắt đầu để ý đến những mối quan hệ phức tạp xâu xé giữa con người với con người, con người với chiến tranh, có thể kể đến: Mở rừng, Đại tá không biết đùa (1976, 1989 - Lê Lựu); Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà (1977 - Nguyễn Minh Châu); Nắng đồng bằng, Vòng tròn bội nghĩa, hành khất quá vãng, Sông xa, Ba lần và một lần (1977, 1991, 1996, 1999 - Chu Lai); Năm 1975 họ đã sống như thế, Chim én bay (1978, 1987 - Nguyễn Trí Huân); Thung lũng thử thách, Họ cùng thời với những ai (1978, 1980 - Thái Bá Lợi); Trong cơn gió lốc, Không phải trò đùa (1979, 1988); Cửa gió (1981 - Xuân Đức); Biển gọi, Cánh đồng phía Tây (1982, 1994 - Hồ Phương); thời kì của người (1983 - Nguyễn Khải); sao sa (1985 - Chu Văn); Người lính mặc thường phục (1986 - Mai Ngữ); Ông cố vấn - Hồ sơ một điệp viên (1988 - Hữu Mai); Tư Thiên (1994 - Xuân Thiều); Một ngày và một đời (1997 - Lê Văn Thảo); Nước mắt đỏ (1988 - Trần Huy Quang); Trong vùng tam giác sắt (1995 - Nam Hà); Lạc rừng (1999 - Trung Trung Đỉnh); Thời của những tiên tri giả (1999 - Nguyễn Viện).
Tầm mắt của các nhà văn dõi nhìn về nhiều những chân trời văn học khác nhau. Mà trong quy luật tiếp nhận, có một cái nhìn mới lạ bao giờ cũng gây lộn để ý, người quan hoài đến vấn đề đổi mới cách viết thì ủng hộ, người hay chú ý đến nội dung viết về cái gì thì phản đối.
Và đặc biệt là một lòng yêu nước vô biên. Những điều ấy càng làm nổi rõ sự thực khốc liệt của chiến tranh, càng làm nổi rõ chân dung người lính cách mệnh rạng ngời hơn với những phẩm chất phi thường: thông minh, quả cảm.
Có thể coi nhân vật như cái bản lề khép mở hai chiều Thời gian: kí vãng là cảnh trị kẻ ác ôn mà có khi Quy là người trực thu nạp nhiệm vụ. Có cái mới nhập tịch được công nhận nhưng cũng có cái mới đưa vào gượng ép thành thử sống sượng. Ta càng thấy rõ hơn những nhân vật cao cấp trong ngụy quân cực kỳ man trá, thâm thúy, sâu sắc. Có nhiều căn cứ để đánh giá Bảo Ninh chịu ảnh hưởng từ lối viết của Erich Maria Remarque, nhà văn Đức gốc Do Thái trong Phía Tây không có gì lạ.
Văn học ta được đón những luồng gió thi pháp trên khắp thế giới thổi tới làm phong phú đa dạng thêm rất nhiều bức tranh vốn đơn sắc. Trước đó, về cơ bản cái nhìn của văn học Việt Nam về chiến tranh là cái nhìn một chiều, cái nhìn sử thi.
Chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và lưu lạc vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới bạt sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người”.
PGS, TS NGUYỄN thanh thoát Kỳ 1: Những tiền đề, bối cảnh sử thi Kỳ 2: Cảm hứng sử thi Kỳ 4: Những hướng đi mới. Cùng với Chim én bay, Nước mắt đỏ đi sâu lý giải, phân tích tâm trạng giằng xé đớn đau của nhân vật người đàn bà (Thu) phải gánh chịu bao thống khổ do chiến tranh trên đôi vai phong thanh.
Cảm hứng sáng tạo của nhà văn về căn bản là cảm hứng ca ngợi người anh hùng mà điển hình là hình tượng người lính Mười Sanh, tuy là một nhưng là một vòng sóng có sức lan tỏa đến khôn cùng.
Mười Sanh là anh hùng của hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, một tính cách Nam Bộ tiêu biểu, là nhân chứng sống của lịch sử. Chúng ta dìm hào kiệt của tác giả biểu thị ở bình diện đổi mới cách viết, kỹ thuật viết.
Một trong những miêu tả mà tiểu thuyết nói về sự bao tay kinh khủng của chiến tranh là miêu tả kẻ thù như nó vốn có, tức thị cũng thông minh, tỉnh táo và cực kỳ bất nhẫn. Ngoài sự canh tân ở hình thức biểu hiện, tiểu thuyết quyến rũ ở chỗ đưa ra một cái nhìn mới về chiến tranh.
Nhất là làm trổi cái giá bằng máu phải trả cho chiến thắng giành độc lập.
Đó là hạn chế rõ nhất về tính tư tưởng của tác phẩm. Tiểu thuyết vươn tới một tầm ý nghĩa nhân văn mới mẻ, sâu sắc và mang tính phổ thông: Phải trị cái ác để cứu lấy con người, nhưng con người chẳng thể sống trong cái vòng lẩn quẩn của sự thù hận mà phải biết rũ bỏ và hóa giải hận thù, cùng nhau “sống để yêu thương”.
Trước đó kẻ thù được biểu lộ có gì đấy ngu si, toàn những nét xấu, tính xấu, thì nay được đưa về đúng với cấu trúc hiện thực. Xét về đổi mới nghệ thuật thuật thì Vòng sóng đến vô cùng (1987) của Nguyễn Khải mang tính tiên phong trong việc dùng hình thức đối thoại khá linh hoạt, tạo cho tác phẩm sự đa dạng về giọng. Chưa bao giờ có hiện tượng một tác phẩm văn chương hiện đại chia đôi hai thế giới bạn đọc: Những người ủng hộ hết dạ và những người chê hết mức, cho đến khi xuất hiện Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh.
Hết chiến tranh, Mười Sanh lại tiếp kiến cuộc đương đầu vì lẽ phải trong sự nghiệp dựng xây lại cuộc sống. Đọc Tư Thiên ta thấy trung đoàn 7 của Thành Huế trong Tết Mậu Thân hy sinh nhiều quá vì quân thù quá nham hiểm. Về mặt này, tác phẩm xứng đáng được Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1991. Có thể kể tới các tiểu thuyết: Những tầm cao , tập 2-1976 của Hồ Phương; Sao Mai , tập 2, 3-1980, 1987 của Dũng Hà; Vùng trời , tập 3-1980 của Hữu Mai; Dòng sông bằng lặng , tập 2, 3-1977, 1981 của Tô Nhuận Vỹ.
Đọc Ông cố vấn. QĐND - Sau ngày giải phóng, nhất là sau Đổi mới (1986) nước ta mở cửa, Việt Nam là bạn với tuốt luốt các nước trên thế giới. Thành thử tác phẩm tạo ra những dư luận trái chiều, phân hóa trong giới bạn đọc là điều dễ hiểu.
Đến Nỗi buồn chiến tranh thì xuất hiện cái nhìn trái lại, cái nhìn phản sử thi: “. Có cái cũ trở thành lỗi thời nhưng cũng có cái cũ Trở thành cổ điển. Với cảm hứng thảm kịch tàn ác, nhà văn nhìn về chiến tranh chỉ thấy sự tàn nhẫn, chỉ thấy những “nỗi buồn”, chết chóc, bi quan, không nhìn thấy đó là cuộc chiến tranh gì, với mục đích gì.
Những người nữ giới ấy vừa là anh hùng cũng vừa là nạn nhân. Dấu gạch nối của hai thời kỳ trước và ngay sau năm 1975 (được viết ở những năm cuối chiến tranh, đầu giải phóng) vẫn mang đậm chất sử thi từ cảm hứng cho đến ngôn ngữ giọng điệu. Rõ ràng tiểu thuyết về đề tài chiến tranh đã gánh vác trọng trách sự đổi mới tiền phong của cả một nền văn học cách mạng.
Từ góc nhìn thể loại sẽ cho thấy đây là luôn tiện hào kiệt động, linh hoạt, như một cỗ xe tăng xung kích gạt bỏ những công sự bê trễ bảo thủ, mở đường cho các thể tài khác chiếm lĩnh, khai khẩn những miền đất văn học mới. Với cảm hứng thảm kịch nhân văn, Chim én bay đã dựng lại một hình tượng nhân vật Quy luôn có cái nhìn về hai phía quá cố và ngày nay.
Xét theo đặc trưng loại thể tác phẩm này không phải là tiểu thuyết sử thi, nó chỉ là một tiểu thuyết viết về chiến tranh. Anh hùng thì ai cũng thấy, nhưng ở bình diện nạn nhân thì chỉ đọc tiểu thuyết người ta mới nhằm nhè hơn về sự mất mát thiệt thòi mà ở thời nào, nhất là trong thời chiến, người nữ giới cũng phải hứng lấy nhiều nhất.
Trở nên đa sắc thì có nghĩa là muôn hình nhiều vẻ, nên khó nhận dạng, khó nắm bắt.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét